Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng | Văn mẫu

Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 11) Em hãy phân tích đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” trích tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng

(Bài phân tích văn của bạn Trương Phương Thúy)

Đề bài: Phân tích đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” của tác giả Vũ Trọng Phụng

BÀI LÀM

         Nhắc đến “ông vua phóng sự đất Bắc” hay “nhà tiểu thuyết hiện đại” chúng ta sẽ nghĩ ngay đến Vũ Trọng Phụng. Tuy sự nghiệp sáng tác ngắn ngủi (ông mất khi mới vừa 27 tuổi) nhưng với tài năng nghệ thuật xuất chúng của mình, Vũ Trọng Phụng đã để lại cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam những tác phẩm bất hủ như Giông tố, Số đỏ, Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây…Với khuynh hướng hiện thực phê phán, văn chương Vũ Trọng Phụng toát lên niềm căm phẫn mãnh liệt cái xã hội mà ông gọi là “chó đểu”.

         “Hạnh phúc của một tang gia” là đoạn trích trong tiểu thuyết “Số đỏ” được Vũ Trọng Phụng sáng tác năm 1936. Tiểu thuyết này được đánh giá là tác phẩm tiêu biểu, được đánh giá vào hàng xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam. TRong tác phẩm, nhà văn đả kích sâu cay cái xã hội tư sản thành thị chạy theo lối sống nhố nhăng, đồi bại đương thời. Dùng tiếng cười làm vũ khí, tiểu thuyết “Số đỏ” vạch ra bản chất thối nát của các phong trào “Âu hóa”, “thể thao”, “vui vẻ trẻ trung”…được bọn thống trị khuyến khích và lợi dụng, từng lên cơn sốt vào những năm 30. Hàng loạt nhân vật đi tiên phong được cho những phong trào nói trên như Xuân tóc đỏ, vợ chồng Văn Minh, bà phó Đoan, TYPN…Chúng tự phong là những nhà cải cách xã hội nhưng thực chất là một lũ dâm ô, đểu cáng và bịp bợm. Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” nói về sự vui mừng, hứng khởi của đám con cháu vô phúc trước cái chết của cụ cố tổ bởi cái chết của ông đem đến cho chúng cơ hội được chia tài sản, được tung hô những cái “văn minh tiến bộ” thỏa mãn thói hư vinh.

           Trước hết, có thể thấy đặc sắc của đoạn trích nằm trong chính nhan đề tác phẩm cũng chính là tình huống trào phúng bao trùm toàn bộ chương truyện. Tang gia là gia đình có người thân vừa mới nằm xuống, lúc này không thể có một cuộc sống bình thường chứ chưa thể nói tới điều gì khác. Nhưng ở đây xảy ra điều kì lạ: Tang gia ấy rất hạnh phúc. Nhan đề tạo sự đối lập gây tiếng cười thâm thúy: “Tang gia” là đau đớn, u buồn,ảm đạm. “Hạnh phúc” là sự sung sướng, được thỏa mãn nguyện vọng.Hai trạng thái đó đối lập nhau trong một nhan đề đã tạo nên nghịch lý gây sự tò mò,chú ý ở người đọc. Nhan đề này góp phần bộc lộ nội dung đoạn trích: cái chết của cụ cố Tổ đã đem lại cho cả gia đình này một niềm hạnh phúc hoan hỉ. Cái chết của cụ cố tổ đem đến hạnh phúc, sung sướng cho tất cả con cháu,người thân và bạn bè, niềm hạnh phúc đó to lớn đến mức nó cự tự phát bung ra, tràn trề,không kìm nén lại được. Bởi cụ cố tổ làm di chúc là sau khi cụ chết mới được chia gia tài. Cái chết của cụ khiến cho cái chúc thư kia thực sự “bắt đầu đi vào giai đoạn thực hành chứ không còn là lý thuyết suông nữa”, do đó ai cũng hạnh phúc. Nhan đề góp phần tố cáo mạnh mẽ,lật tẩy bộ mặt thật của một xã hội tư sản lố lăng, kệch cỡm, học đòi, đang làm bang hoại giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.

phân tích đoạn trích hạnh phúc của một tang gia

         Mâu thuẫn trào phúng bắt đầu từ tình huống trào phúng là cụ cố tổ chết, “chết thật dù rằng chết một cách bình tĩnh”.Tình huống bi nhưng nhà văn lại diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ  ráo hoảnh những từ như “chết thật” “chết một cách bình tĩnh” nó cho biết cụ cố Tổ đã mấy lần suýt chết, đám con cháu đã sốt ruột chờ đợi cái chết này vậy mà cứ “chết một cách bình tĩnh” dù người ta đã vận dụng đủ loại thuốc hổ lốn “bùn đen trộn cứt trâu” hay cả cái lí thuyết nhiều thầy thối ma “công dụng đến mức mất mạng”. Và bây giờ cụ cố Tổ đã chết thật là may mắn! Cái chết của cụ cố Tổ vì vậy mà nảy sinh sự kiện tang gia nhưng đồng thời đem lại niềm hạnh phúc cho mọi người. Như vậy mâu thuẫn trào phúng giữa hạnh phúc và tang gia đã xuất hiện từ tình huống kỳ bí đó. Tiếng cười đã có hoàn cảnh, cơ sở để bộc lộ, để “khai sinh” một cách vẻ vang!

       Trước cái chết của một người thân trong gia đình, người có quan hệ máu mủ, ruột thịt với mình, ấy vậy mà thay bằng sự mất mát, tiếc thương thì những thành viên trong gia đình lại tìm thấy những hạnh phúc lớn lao. Trước hết là niềm hạnh phúc chung của đại gia đình. Cụ cố tổ có một gia tài kếch sù nhưng oái oăm thay cụ di chúc rằng bao giờ cụ chết đám con cháu mới được chia gia tài. Và tất nhiên, cụ cố tổ chết đi thì “cái chúc thư kia sẽ đi vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết suông nữa”. Cái chết của cụ Tổ đã tạo một dịp may cho tất cả mọi người chung một nhịp sống rộn ràng vui vẻ đón nhận cái gia tài kếch xù sẽ được chia sau đám tang của cụ. ‘Bọn con cháu ai nấy đều sung sướng thoả thích … người ta tưng bừng đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma” . Rõ ràng là nhà có tang, có người chết, con cháu dán cáo phó khắp nơi, thuê xe, kiệu, có khách khứa 26đến hỏi thăm tấp nập. Ai nấy đều hạnh phúc sung sướng.Những niềm hạnh phúc được che đậy bằng cái vỏ tang gia giả dối bị lôi ra ánh sáng. Và nhà văn đã làm được  điều đó, để cười vào chúng, lên án chúng bằng việc kí hoạ những niềm hạnh phúc  thành những chân dung tính cách thực sự chân thực, sắc sảo.

       Hòa trong niềm vui chung của đai gia đình, mỗi người trong gia đình lại có những niềm vui, hạnh phúc riêng. Đầu tiên là con trai cả của cụ cố tổ là cụ cố Hồng. Là con trai trưởng lẽ ra cụ cố Hồng là người phải lưu tâm nhiều nhất có trách nhiệm với cái chết của cụ cố Tổ. Thế nhưng, Cố Hồng vẫn dửng dưng như không, nằm bẹp hút thuốc phiện một cách bình tĩnh, lặp đi lặp lại như một cái máy một gàn tám trăm bảy mươi hai  câu “Biết  rồi, khổ lắm nói mãi” mà thực chất chả biết cái gì? Thâm chí ông ta chỉ mơ tưởng tới hình ảnh mình “mặc áo xô gai, chống gậy vừa ho lụ khụ vừa mếu máo, sung sướng được thiên hạ chỉ chỏ khen: “ái chà, con giai nhớn của cụ già đến thế kia à?” Cố Hồng là một “trưởng giả”, hiếu danh, hủ lậu, hợm hĩnh một cách vô nghĩa lí, vô tình, vô trách nhiệm. Một nhân vật khác là bà cố Hồng thì lại bấn lên không phải vì tang gia bối rối mà vì bây giờ bà mới nhận thấy hết giá trị của ông Đốc tờ Xuân, cụ lo bây giờ Xuân sẽ hối hôn với cô Tuyết cô con gái hư hỏng một cách có lý luận của bà. Rốt cuộc bà cũng gặt được hạnh phúc, sự sung sướng khi được cậu Tú Tân thông báo có xe, kiệu, lọng, vòng hoa và cả Xuân Tóc Đỏ đến đưa đám. Bà cảm động hết sức vì “ấy giá không có cái món ấy thì là thiếu, chưa được to, may mà ông Xuân đã nghĩa hộ tôi”. Cái “món ấy” với bà cố Hồng, đó không phải chỉ là xe, lọng, vòng hoa mà quan trọng là vì có ông me xừ Xuân đến giúp đáp phúng viếng, làm danh giá cho đám tang, mà số phận của cô Tuyết như thế cũng được giải quyết êm thấm.

          Ngoài cụ cố Hồng, ông bà Văn Minh, cũng là những người tìm được niềm vui lớn từ cái chết của ông nội. Đối với ông, việc Xuân tóc đỏ “gây ra cái chết của ông cụ già đáng chết”  là “một cái ơn to”. Khuôn mặt “đăm đăm chiêu chiêu”, “vò đầu bứt tóc” của ông lại thành ra “hợp thời trang” đúng kiểu tang gia bối rối.. Chỉ vài nét phác họa, Vũ Trọng Phụng đã bóc trần bộ mặt giả dối, bất nhân của một kẻ đạo đức giả, rởm đời. Còn vợ ông ta, bà Văn Minh thì lại háo hức lăng xê các mốt y phục tang của tiệm may Âu Hóa.Đó là “những đồ sô gai tân thời,cái mũ mấn trắng viền đen –Dernières créations! – những cái rất ăn với nhau” có thề làm cho “nhũng ai có tang đương đau đớn vì kẻ chết cũng được hưởng chút hạnh phúc ở đời”. Niềm vui của bà ta cho thấy bản chất nông cạn, vô nhân tiêu biểu cho lũ người  tân tiến, âu hóa lố lăng. Một người khác là cô Tuyết ngây thơ, cháu gái người chết lại vui mừng vì “nhân dịp” đám tang cô có cơ hội để hẹn hò, gặp mặt người yêu. Khi đợi mãi mà không thấy Xuân đến trên mặt Tuyết có vẻ “buồn lãng mạn” “đúng mốt một nhà có đám”. Không những thế, Tuyết còn biến đám tang ông nội thành sàn diễn thời trang, khoa thân thể. Tuyết mặc “cái áo dài voan mỏng, trong có coóc-sê, trông như hở cả nách và nửa vú – nhưng mà viền đen, và đội một cái mũ mấn xinh xinh”.  Bộ trang phục mà cô ả dùng để chứng minh sự ngây thơ, trinh tiết biến cô ả thành một trò lố lăng, kệch cỡm. Không một chút lòng xót thương với người đã khuất cho thấy bản chất thực dụng, thiếu tình người trong con người Tuyết. Em của Tuyết là Cậu Tú Tân lại cho thấy sự vô tâm đáng lên án khi sướng điên vì được dùng máy ảnh mới mua. Đi du học mấy năm không đỗ bằng nào, chỉ đem về được mỗi cái máy ảnh. Cậu ta chạy lên chạy xuống hào hứng bấm máy tanh tách, thậm chí lúc hạ huyệt còn bắt bẻ điều chỉnh từng người mà dẫm bừa lên mồ mả người ta. Còn ông Phán mọc sừng lại sung sướng vì không ngờ rằng cái sừng trên đầu mình lại có giá trị khi cụ cố Hồng hứa chia cho ông ta thêm vài nghìn để trấn an khi con gái cụ ngoại tình. Phán mọc sừng hiện lên đúng là một quái thai, hắn cúi mình trước đồng tiền một cách đê tiện nên sẵn sàng đánh đổi hạnh phúc vợ chồng, danh dự của một thằng đàn ông lấy vinh quang của đôi sừng vô hình trên đầu hắn mà không cảm thấy nhục nhã.

      Gia đình có tang lại là tang cụ cố Tổ nhưng con cháu nội ngoại không một ai khóc thương, suy nghĩ tưởng nhớ. Trái lại họ đều vui vẻ, hả hê. Họ tổ chức đám tang không phải vì là một nghi lễ thiêng liên vĩnh biệt một con người, dứt đi một phần máu mủ mà vì tiền tài, vì danh vọng, vì một mối tình nhem nhuốc, vì một cuộc buôn bán lén lút xấu xa. Mỗi người trong họ đều có một động cơ riêng, một niềm hạnh phúc riêng tây trong đám tang này nhưng họ đều giống nhau ở chỗ bất hiếu, bất nhân, vô đạo đức, mất hết nhân tâm, nhân phẩm.Đúng như cụ cố Tổ khi ốm cũng nói với họ: “Để tao chết. Sống cũng nhục! Cố chạy chữa thì chạy chữa cho cái thanh danh nhà tao mà bọn chúng mày đang bôi nhọ”. Và quả thực chúng đã để cụ cố chết nhưng cũng không chạy chữa thanh danh. Họ đang sống một cách nhốn nháo nhưng đang nêu gương cho cả xã hội.

      Như vậy, bằng giong văn mỉa mai, Vũ Trọng Phụng đã phô bày sự lố bịch, thiếu văn hóa, vô đạo đức một đại gia đình vô phúc trước cái chết của người thân. Đó là sự băng hoại đạo đức  đến mức biến dạng. Lũ người ấy khiến chúng ta liên tưởng đến một đám quạ đói kiếm ăn trên xác chết của chính người ruột thịt. Xã hội tư sản nửa thực dân vừa chào đời đã đầm đìa máu và bùn, con người sống vô tình, vụ lợi, cái chết của một người trở thành dịp kiếm ăn của bao kẻ. Ngòi bút trào phúng hiện thực của Vũ Trọng Phụng đã không ngần ngại vạch ra chân dung dị dạng đó của nó. Niềm hạnh phúc nảy sinh từ tang gia cứ thế chảy trong mạch huyết trong đám con cháu cụ Tổ từ già tới trẻ, từ lúc phát tang cho tới lúc hạ huyệt.

          Ngoài gia đình cụ cố tổ thì cái chết của ông cụ cũng mang lại niềm hạnh phúc cho cả những người ngoài. Xuân Tóc đỏ đang từ kẻ có tội bỗng trở thành có công. Vênh vang, danh giá vì nhờ hắn mà cụ cố Tổ lăn đùng ra chết. Ngay lập tức được gia đình cố Hồng chào đón nhiệt liệt, tin cậy …Bọn cảnh sát Min Đơ, MinToa đang sống trong cảnh “thất nghiệp”, buồn như nhà buôn vỡ nợ vì chả rình phạt được ai bỗng nhờ có đám tang thành thử lại có công ăn việc làm vì thế mà chúng dốc lòng phục vụ đám tang tận tình. Đám đông bạn bè gia đình cố Hồng dự tang lễ đông đủ nhưng không phải là đến chia buồn chẳng qua thấy đây cũng là một cơ hội phô trương thanh thế, kheo mẽ cái mã hào nhoáng của bọn trưởng giả. Vì thế mà đến dự tang các cụ trên ngực đầy huân chương nào là Bắc Đẩu bội tinh, long bội tinh, cao niên bội tinh, Vạn tượng bội tinh. Trên mép và cằm đều đủ râu ria hoặc dài hoặc ngắn hoặc đen hoặc hung hoặc lún phún hay rầm rậm … Các cụ đến dự đám tang nhưng lòng cảm động biết bao khi trông thấy Tuyết …Ngay cả hàng phố cũng vô cùng vui vì lâu quá rồi mới được xem một đám ma to thế .Vũ Trọng Phụng đã không chỉ dừng ở vịêc miêu tả bộ mặt hạnh phúc trong gia đình Cố Hồng mà hướng ngòi bút ra khái quát toàn bộ gương mặt xã hội để phản ánh sự thật trong một xã hội một thời đại “chó đểu’, kẻ nào nhân cách cũng nhem nhuốc. Đằng sau cái vẻ ngoài là đi đưa tang, vẻ hết lòng tận tụy phục vụ đám ma, bộ đồ xô gai, vẻ mặt đăm chiêu… đều là sự giả rối …

         Trong toàn bộ đoạn trich, hình ảnh trào phúng đặc sắc nhất là hình ảnh đám ma gương mẫu ở cuối truyện. Nhìn bao quát đám ma trong cụ cố tổ được tổ chức to tát, linh đình nào xe, lọng, vòng hoa đủ cả, có tới ba trăm câu đối, vài trăm người đưa…Đám ma lủng củng, hỗn loạn được tổ chức theo cả lối ta, Tây, tàu, có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, lốc bốc xoảng, kèn bú dích…Cái tính chất lủng củng linh đình ấy cùa đám ma khiến nhà văn phải so sánh với hình ảnh một hội chợ, giả thật lẫn lộn và thật nực cười khi nó càng cố phô trương càng giống một phường chèo hay một đám rước. Hành trình đưa tiễn của đám rước ấy diễn ra chậm chạp qua lần phố này lại qua phố khác. Nhưng câu văn “đám cứ đi …” cứ lặp đi  lặp lại và những cái dấu chấm lửng gợi cho người đọc liên tưởng tới những “đám rước” thực sự như một phường chèo bát nháo.Cái hành trình đưa tiễn được mô tả chậm chạp thực chất không phải vì đó là cuộc đưa tiễn linh thiêng nuối tiếc mà chẳng qua là vì nhằm phô trương, kheo mẽ.

phân tích đoạn trích hạnh phúc của một tang gia

             Như vậy cái vẻ to tát, lủng củng, đưa tiễn nặng nề chậm chạp đều là cái vô hình thức giả dối nực cười vì thanh thế gia đình mà thôi. Cái thực chất của hình ảnh trào phúng ấy được nhà văn quay cận cảnh kỹ lưỡng. Người đi đưa đông nhưng đặc biệt toàn mặc kiểu quần áo tang tân thời ở tiệm may Âu Hoá thu hút mọi người xem đám. Họ dự đám nhưng không có những tiếng khóc, nỗi niềm ai oán, trái lại họ toàn trò chuyện với nhau, chim nhau, cười tình với nhau. Cả đám tang chỉ vang lên những tiếng thì thầm về nhà cửa, vợ con, quần áo, sắc đẹp … Toàn những chuyện tầm phào đại loại “thằng ấy bạc tình bỏ mẹ” , “Con bé nhà ai kháu thế – Gớm cái ngực đầm quá đi mất”. Ở đây, nhà văn sử dụng khả năng quan sát tinh tế của một nhà phóng sự bóc trần sự thật trần trụi, cùng với bút pháp, ngôn ngữ trào phúng tô đậm, chân dung kí hoạ trang phục nhiều hơn là thái độ người đưa mạ, lặp đi lặp lại điệp ngữ: “Những người đưa ma, rất xứng với những người đưa ma” tái hiện chân dung đám đông toàn những người giả trá, vô tình.

           Đám ma kết thúc ở cảnh hạ huyệt và cảnh này lại vô cùng đáng nhớ hơn. Cậu Tú Tân lăng xăng bắt bẻ từng người chống gậy, gục đầu, cong lưng, lau mắt để cậu chụp ảnh. Bạn bè cậu thì quýnh lên dẫm bừa bãi lên mồ mả nhà người ta. Cảnh hạ huyệt diễn ra nhanh chóng sau 3 tiếng khóc như cố nặn ra của Phán mọc sừng “Hứt … Hứt … hứt…” người mềm oặt ra nhưng dúi nhanh vào tay Xuân cái giấy bạc năm đồng gấp tư. Tất cả những gì đang diễn ra vốn dĩ đều là giả dối từ lúc đưa đám cho tới lúc hạ huyệt. Và sự giả dối ấy bộc lộ rõ nhất ở cảnh cuối này, người ta chỉ mau chóng vùi cho xong một xác chết. Mọi sự gục đâù, lau nước mắt đều để chụp ảnh, có duy nhất một tiếng khóc “Hứt … hứt .. hứt ” của Phán mọc sừng chẳng qua cũng để che khuất 1 hành động mua bán xấu xa giữa Phán và Xuân.

          Làm nên thành công của đoạn trích, góp phần không nhỏ vào chủ đề tác phẩm, chúng ta không thể không kể đến tài hoa xuất chúng của Vũ Trọng Phụng khi xây dựng được tình huống trào phúng, mâu thuẫn trào phúng, chân dung trào phúng, hình ảnh trào phúng một cách độc đáo, khiến cho tiếng cười, cái hài được khai sinh một cách vẻ vang bóc trần bộ mặt rởm đời của một xã hội văn minh “chó đểu”.  Bên cạnh đó, cách sử dụng ngôn từ đa dạng, nhuần nhuyễn cũng cho thấy ngòi bút bậc thầy của Vũ Trọng Phụng. Nhà văn đưa vào tác phẩm hệ thống ngôn từ tương phản cho thấy sự mâu thuẫn thật giả, mâu thuẫn giữa bên trong với bên ngoài của con người và sự việc. Bên cạnh những “tiếng kèn xuân nữ ai oán” là “ai cũng vui vẻ sung sướng, hả hê, vênh váo”, bên cạnh “Những bộ mặt nghiêm chỉnh” là “người ta chim nhau, cười tình với nhau …”. Ngoài ra, điệp ngữ cũng là một biện pháp tu từ nghệ thuật được Vũ Trọng Phụng vận dụng khá xuất sắc. Các điệp ngữ  “Đám cứ đi ..”, “những người đi đưa ma”, “rất xứng với những người đi đưa ma” như gợi ra cách nói mỉa mai, châm biếm…cái xã hội thối nát, bẩn thỉu với những trò hề rẻ tiền. Đôi khi, nhà văn cố tình sử dụng những từ gợi âm thanh kỳ cục như tiếng khóc “Hứt … Hứt …,” đầy giả tạo của ông Phán hay âm thanh tiếng kèn ta, tàu, Tây đua nhau “lốc bóc xoảng …” để nói về cái nhộn nhạo, bịp bợm của con người và xã hội. Ngôn từ ấy như những lớp sóng làm nổi bật màn hài kịch kỳ quái có thật ở xã hội tư sản nước ta trước cách mạng tháng Tám.

           Có thể nói, nếu coi “Số đỏ” là một tấn hài kịch thì “Hạnh phúc của một tang gia” là một màn bi hài kịch xuất sắc. Qua đây,nhà văn lên tiếng  tố cáo bộ mặt quái gở, vô nghĩa lý, chó đểu toàn hạng người nhân cách nhem nhuốc hiếu danh, hủ lậu, lưu manh, hám lợi …tất cả đều bất hiếu, nhẫn tâm . Xã hội biến thành một sân khấu hề kịch mà ở đó, mỗi người là một diễn viên vì tiền, vì vật chất mà vứt bỏ nhân cách đạo đức, trở thành trò cười cho thiên hạ.

>>> XEM THÊM : 

Check Also

phân tích nhân vật chiến và việt trong tác phẩm những đứa con trong gia đình

Phân tích nhân vật chiến và việt trong tác phẩm những đứa con trong gia đình | Văn mẫu

Đề bài: Phân tích nhân vật chiến và việt trong tác phẩm những đứa con …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *