Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 12) Em hãy phân tích truyện ngắn Vợ chồn A Phủ của nhà văn Tô Hoài (Bài phân tích văn của bạn Chu Minh Anh Thư)

Đề bài: Phân tích truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

BÀI LÀM

     Tô Hoài là một nhà văn nổi tiếng được biết đến với truyện đồng thoại “Dế Mèn phêu lưu kí”, một sáng tác gắn liền với tuổi thơ của các em nhỏ. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết rằng thực tế, sở trường của ông lại là mảng văn học viết về đất và người Tây Bắc. Năm 1952, khi ông cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc, với thế mạnh của một nhà văn phong tục , Tô Hoài đã nhanh chóng nắm bắt được hiện thực cuộc sống của đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Sau đó, ông đã viết liền một hơi tập truyện Tây Bắc gồm ba tác phẩm trong đó tiêu biểu nhất là “Vợ chồng A Phủ”. Tác phẩm dựng lên một cách chân thực cuộc sống đầy áp bức, đau khổ của những người dân nghèo vùng núi Tây Bắc dưới sự thống trị của cường quyền, thần quyền. Đồng thời, qua đó, tác phẩm cũng thể hiện những tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của nhà văn Tô Hoài.

     Tác phẩm viết về nhân vật Mị, một cô gái Mèo trẻ đẹp, tài hoa, giỏi giang, yêu đời, thích tự do. Vì món nợ truyền kiếp, Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ cho gia đình thống lí Pá Tra.Từ đây, Mị phải sống kiếp nô lệ khổ nhục. Mị dần dần trở nên tê liết, câm lặng và vô cảm.  Đêm tình mùa xuân, Mị muốn đi chươi nhưng bị A Sử trói đứng vào cột nhà. A Phủ là một thanh niên mồ côi, lao động giỏi lại rất dũng cảm nên nhiều cô gái mê nhưng vì nhà nghèo không lấy được vợ. Một lần, vì bất bình, A Phủ đánh A Sử, bị bắt, bị phạt vạ và trở thành kẻ ở trừ nợ cho nhà thống lí. Do sơ ý để hổ vồ mất một con bò, A Phủ bị đánh và trói đứng vào cột. Mị cắt dây trói cứu A Phủ, cả hai bỏ trốn khỏi Hồng Ngài. Đến Phiềng Sa, họ trở thành vợ chồng, nỗ lực xây dựng cuộc sống mới. Cuối cùng họ được giác ngộ, trở thành du kích cùng nhau bảo vệ quê hương.Có thể thấy, tác phẩm này có kết cấu hai phần rõ rệt. Phần đầu là cuộc đời tăm tối, cơ cực của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài còn phần sau là cuộc đời mới của Mị và A Phủ ở Phiềng Sa. Trong đó, phần đầu được đánh giá là công phu hơn, tập trung đặc sắc ngòi bút Tô Hoài đồng thời thể hiện sâu sắc tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Phần sau có phần hơi dàn trải, sự sắp đặt có phần hơi lộ liễu. Trong lần tuyển chọn gần nhất, Tô Hoài đã lược bỏ gần hết phần sau, truyện kết thúc ở chỗ A Phủ và Mị đến Phiềng Sa và trở thành vợ chồng bắt đầu cuộc sống mới.

     Nhân vật trung tâm của truyện là Mị. Nhân vật này là nạn nhân tiêu biểu của chế độ phong kiến thực dân với cuộc đời đầy rẫy đau khổ nhưng có sức sống mãnh liệt. Mị xuất hiện đầu tiên trước mắt người đọc không phải là ở chân dung ngoại hình mà là thân phận. Tô Hoài giới thiệu “… một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tầu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Mị như một cái bóng, một mảng tối im lìm trong cảnh giàu sang nhà thống lí. Ở đây, nhà văn có tả hình dáng nhưng không nhằm khắc họa chân dung ngoại hình  mà chủ yếu làm nổi bật số phận nghiệt ngã, éo le đầy cay đắng của Mị..

     Trước khi làm con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra, Mị là cô gái trẻ đẹp như đóa hoa rừng dầy sức sống , giàu lòng hiếu thảo.Ngày ấy “Mị thổi sáo giỏi…thổi lá cũng hay như thổi sáo, biết bao người mê ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”. Mị khao khát tình yêu tự do mãnh liệt. Nếu không bị bắt làm con dâu gạt nợ khát vọng của Mị sẽ thành hiện thực bởi “trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị”. Mị đã từng hồi hộp nghe tiếng gõ vách của người yêu. Mị đã bước theo tiếng gọi của khát vọng tình yêu nhưng không ngờ bị rơi vào cạm bẫy. Bị bắt về nhà thống lí Pá Tra làm con dâu gạt nợ nhưng bản chất là một nô bộc hết quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải rồi chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên…Mị cũng đã từng phản kháng, từng nghĩ đến cái chết để giải thoát nhưng thương cha, vì gia đình Mị đã chọn tiếp tục cam chịu cuộc sống tủi nhục và uất ức. Mị ngày càng không nói, chỉ “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, “Mị tưởng mình là con trâu con ngựa. Con ngựa chỉ biết ăn cỏ và đi làm”.  Ách áp chế nặng nề của bọn chúa đất phong kiến, cả cường quyền và thần quyền đè nén khiến Mị trở nên tê liệt về ý thức.Mị vô cảm, không khát vọng, không khổ đau chỉ còn là một công cụ, một con vật chịu sự sai khiến.

phân tích truyện ngắn vợ chồng a phủ

     Thế nhưng, vào cái lúc chúng ta tưởng chừng như Mị chỉ còn là cái xác không hồn thì từ tận sâu trong tâm hồn Mị, sức sống vẫn luôn tiềm tàng trỗi dậy. Căn nguyên sự thức tỉnh của Mị, trước hết là sự tác động của hoàn cảnh. Mùa xuân đến với sưc sống căng tràn của nó bao trùm khắp nơi những chiếc váy hoa xòe phơi trên mỏm đá như những cánh bướm, hoa thuốc phiện rực rỡ, tiếng những đứa trẻ đợi tết chươi quay cười ầm trước sân…làm tâm hồn Mị phơi phới. Thêm vào đó, Mị uống rượu, uống ực từng bát. Trong men rượu say, tiếng sáo gọi bạn lấp ló ngoài đường ngoài đầu núi thâm nhập vào tâm hồn Mị đưa Mị trở về quá khứ hạnh phúc ngắn ngủi, Mị chợt nhận ra “Mị còn trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”. Nhớ về quá khứ càng khiến Mị nhận thức rõ ràng hoàn cảnh đau khổ, tủi nhục hiện tại của mình. Mị lại muốn chết, “nếu có nắm lá ngón trong tay Mị sẽ ăn cho chét ngay chứ không buồn nhớ lại nữa”, nhớ lại chỉ khiến Mị thêm đau, “nước mắt ứa ra”. Những giọt nước mắt tưởng như đã cạn khô trong cô gái vô cảm, vô hồn ấy nhưng một lần nữa lại lăn dài. Điều này chứng tỏ Mị đã bắt đầu thức tỉnh, sức sống trong Mị đang hồi sinh. Mị “lấy ống mỡ, sắn một miếng bỏ thêm vào đĩa dầu”. Mị muốn thắp đèn là Mị muốn thắp sáng căn phòng tràn ngập bóng tối, thắp lên ánh sáng cho cuộc đời tối tăm của mình. Tiếp theo, Mị “quấn tóc lại, với tay lấy chiếc váy hoa vắt bên trong vách”, Mị muốn sửa soạn đi chơi. Ngay cả khi bị A Sử trói đứng vào cột, Mị vần “vùng đứng dậy” muốn đi theo tiếng sáo, muốn sống lại với tình yêu tự do, hạnh phúc mà quên cả đang bị trói. Đó được xem là những chuyển biến lớn lao của một tâm hồn đã cằn khô, chìm đắm trong tăm tối đã lâu.

     Sức sống của Mị thực sự bùng phát mãnh liệt là khi Mị cắt dây trói cho A Phủ. Trước đó, dù đã được đánh thức song khi tiếng sáo im bặt thì Mị lại trở về thực tại đau khổ đầy áp bức của mình. Những ngày đầu thấy A Phủ bị trói, Mị tỏ ra vô cảm, vẫn “Thản nhiên ngồi thổi lửa hơ tay” dù A Phủ là cái xác chết cũng thế thôi. Thế nhưng, một đêm, khi lé mắt nhìn sang thấy hai dòng nước mắt bò trên hai hõm má A Phủ, Mị đã thay đổi. Mị nhớ mình từng bị trói đứng như thế, đau đớn và tuyệt vọng. Thương mình, thương người, không muốn sai phải chết trên cái cột ấy nữa nên trong giây phuát ngắn ngủi khi ngọn lửa ham sống bùng lên, Mị cắt dây trói cho A Phủ. Sau đó, Tô Hoài khéo léo đưa vào chi tiết “Mị đứng lặng hồi lâu trong bóng tối” rồi quyết định chạy theo A Phủ. Với chi tiết này ta thấy Mị hoàn toàn không có ý định bỏ trốn ngay từ đầu.Chỉ sau giây phút định thần, sợ bị tói thế vào cái cột ấy và chết trên cái cột ấy thì lòng ham sống mới đẩy bước chân Mị theo A Phủ. Chính vì vậy, hành động cởi trói cho A Phủ của Mị vẫn nguyên vẹn tính nhân văn xuất phát từ sự đồng cảm và thương xót.

     Bên cạnh nhân vật Mị, A Phủ cũng là một nhân vật chính, được xây dựng hết sức độc đáo, là một thanh niên có tâm hồn phóng khoáng, tự tin và dũng cảm. Là một đứa trẻ mồ côi cha mẹ, chết trong một trận dịch đậu mùa, A Phủ sống cuộc sống nghèo khổ suốt đời làm thuê làm mướn. Chính cuộc sống ấy hun đúc A Phủ thành chàng trai có sức sống mạnh mẽ, yêu tự do cùng tính cách gan góc và tài năng lao động đáng quý. Chỉ vì dám đánh con quan, A Phủ bị bắt, bị đánh đập tàn nhẫn, bị phạt vạ và trở thành nô lệ cho nhà thống lí. Cuộc đời A Phủ và cảnh xử kiện quái đản, lạ lùng nói lên tình cảnh đau khổ, tuyệt vọng của những người dân nghèo khổ. Làm nô lệ cho nhà thống lí, khi chẳng may để hổ vồ mất một con bò, A Phủ đã tự tin nói rằng “Thế nào cũng bắn được”. Bắn một con hổ mà trong lời nói của A Phủ nhẹ nhàng như chuyện vặt vãnh cho thấy tâm hồn phóng khoáng và tự tin của A Phủ.

     Truyện “Vợ chồng A Phủ” đạt đến thành công vang dội, không đơn giản là nhờ xây dựng các nhân vật với diễn biến tâm lí độc đáo mà hơn cả là giá trị nội dung tư tưởng mà nó gửi gắm.

     Trước hết, tác phẩm là bức tranh hiện thực sinh động về cảnh sống bi thảm của những người dân nghèo miền núi và bộ mặt tàn ác, khắc nghiệt của chế độ phong kiến miền núi. Điển hình cho thân phận bèo bọt của người dân nghèo miền núi là cuộc đời nô lệ, khổ đau của Mị và A Phủ. Mị vì món nợ truyền kiếp mà trở thành nô lệ, bị đè nén, áp bức đến mức tê liệt, mất hết ý niệm sống, vô cảm và câm lặng giữa cuộc đời tăm tối. Mị trở thành con trâu con ngựa, “con ngựa chỉ biết ăn cỏ và đi làm”.  A Phủ mặc dù không nợ nần gì thống lí nhưng vì một sự việc rất nhỏ nhặt do tranh chấp với A Sử mà bị phạt vạ vô lí bắt làm nô lệ, thậm chí đời con cháu A Phủ cũng phải làm nô lệ cho nhà thống lí. Khi chẳng may để hổ ăn mất một con bò, A Phủ phải chính tay đi lấy dây để người ta trói đứng anh vào cột chờ chết, nếu không tìm được con hổ thì A Phủ phải chết. Tính mạng của một con người sờ sờ không bằng một con vật! Như vậy, qua đây, có thể thấy, con người bị bần cùng hóa , chà đạp lên nhân phẩm một cách tàn bạo. Con người bị đối xử không bằng một con vật, đó là bản chất chế độ xã hội bấy giờ.

phân tích truyện ngắn vợ chồng a phủ

      Đề tài thứ hai cũng thuộc giá trị hiện thực của tác phẩm là vạch trần tội ác tàn bạo của chúa đất phong kiến và bè lũ thực dân. Cảnh xử kiện trong tác phẩm diễn ra một cách lạ lùng, quái đản cho thấy trong xã hội phong kiến miền núi trước cách mạng, chân lí, lẽ phải thuôc về con quan, thuộc về kẻ giàu, kẻ mạnh, kẻ thống trị. Người nghèo phản kháng lại sự bất công thì bị đánh,, bị xử tội, bị tước quyền tự do trở thành nô lệ, không chỉ cả đời mà đến đời con đời cháu cũng không thoát được. Cha con thống lí, đại diện cho bọn quan lại phong kiến rất nhẫn tâm. Chũng làm giàu bằng bóc lột sức lao động, bằng lao dịch, cho vay nặng lãi rồi bắt người ta làm nô lệ trừ nơ. Rất nhiều lần trong tác phẩm, Tô Hoài nhắc đến hành động đánh người tàn ác, thản nhiên của chúng. “A  Sử lầm lì trói đứng Mị vào cột nhà, tóc Mị xõa xuống, A Sử cuốn luôn tóc lên cột nhà rồi y tắt đèn, đóng cửa lại”. Mị phải thức suốt đêm thoa dầu cho A Sử nhưng khi Mị mệt quá mà thiếp đi “A Sử bèn đạp chân vào mặt Mị”. Thống lí Pá Tra quyết định trói A Phủ đến chết vì để hổ vồ mất một con bò nhưng hắn tàn ác đến độ để chính  A Phủ đi lấy dây, chôn cọc  cho thống lí quấn dây trói từ chân lên đến đầu. Là quan lại phong kiến nhưng chúng cấu kết với thực dân hại nước, hại dân, mặc sực làm mưa làm gió bóc lột đồng bào. Không những thế, chúng còn lợi dụng hủ tục nặng nề, lợi dụng thần quyền đề trà đạp, áp bức đến cùng cực tinh thần thể xác người dân nghèo. Cái xấu cái ác được xem như một vết bùn nhơ làm vấy bẩn bức tranh thơ mộng của núi rừng Tây Bắc.

     Thông qua những cái nhìn hiện thực về cuộc sống của con người, nhà văn hướng đến thể hiện những giá trị nhân đạo vô cùng sâu sắc. Trước tiên , tác phẩm là tiếng nói tố cáo gay gắt bọn thống trị, những kẻ cướp đoạt quền sống, quyền hạnh phúc chính đáng của con người. Đó là thống lí Pá Tra, là A Sử, những kẻ sẵn sàng trà đạp, bóc lột con người để đạt được mục đích. Chúng lợi dựng cường quyền thần quyền ép những người dân nghèo khổ thành công cụ làm giàu cho chúng với những mánh lới, thủ đoạn tàn độc, phi nghĩa. Ngoài ra, tác phẩm cũng là thái độ cảm thông sâu sắc đối với con người. Chúng ta phải thừa nhận rằng chỉ khi nhà văn đau nỗi đau của người dân, thấu triệt những bế tắc, tủi nhục mà họ phải gánh chịu và tái hiện lại một cách cụ thể, chân thực như vậy. Cũng qua đây, Tô Hoài gửi gắm niềm tin, sự trân trọng vào sức sống mãnh liệt cũng như những khát vọng chính đáng của con người. Cả Mị và A Phủ đều phải trải qua những đau khổ, tuyệt vọng gần như vắt kiệt sức lực và tinh thần họ. Nhưng cuối cùng, lòng ham sống đã thức tỉnh họ vùng lên tự giải thóat chính mình. Tô Hoài cũng chỉ ra con đường giải thoát cho người lao động có cuộc sống tăm tối, thê thảm đó là tự giải phóng và đấu tranh cách mạng. Không ai có thể cứu chúng ta ngoài chính bản thân chúng ta. Sợi dây trói A Phủ như một mối ràng buộc vây hãm con người. Nếu ngay từ đâu chúng ta không biết tự cắt bỏ nó thì mãi mãi sống trong kiếp người đau khổ thê thảm.

     Song song với nội dung tư tưởng đặc sắc, làm nên thành công tác phẩm không thể bỏ qua những giá trị nghệ thuật độc đáo của ngòi bút Tô Hoài. Trước hết là nghệ thuật xây dựng nhân vật với khả năng miêu tả tâm lí nhân vật sinh động có cá tính đậm nét. Với Mị, tác giả í miêu tả hành động, chủ yếu lặp lại có chủ ý một số nét chân dung gây ấn tượng sâu đậm, đặc biệt chú tâm vào miêu tả dòng ý nghĩ, tâm tư nhiều khi là tiềm thức chập chờn. Còn với A Phủ, tác giả lại chủ yếu khắc họa nhân vật qua hành động và công việc để lột tả sức mạnh, tinh thần hăng say lao động rất đáng quý ở nhân vật. Bên cạnh đó, nghệ thuật miêu tả phong tục tập quán cũng rất sinh động làm nổi bật những đặc trưng riêng có của miền núi Tây Bắc như cảnh mùa xuân, tục cướp vợ, cảnh xử kiện…Ngoài ra, nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, kể chuyện sinh động hay hệ thống ngôn ngữ mang đậm tính chất miền núi cũng là những thành công xuất sắc của Tô Hoài khi viết về tác phẩm này.

     Có thể nói, thông qua việc miêu tả cuộc đời, số phận của Mị và A Phủ, Tô Hoài đã làm sống lại cả một quãng đời tăm tối, cơ cực của những người dân miền núi dưới ách thống trị của bè lũ phong kiến thực dân. Từ đó, tác giả thể hiện niềm thương cảm xót xa trước những thân phận nhỏ bé, đau khổ và lên tiếng tố cáo xã hôi phong kiến thực dân cướp đi quyền sống chính đáng của con người. Với những giá trị mang đậm tính nhân văn như vậy, To Hoài và “Vợ chồng A Phủ” sẽ mãi mãi để lại dấu ấn trong tim độc giả mọi thế hệ.

>>> Xem thêm:

Check Also

phân tích nhân vật chiến và việt trong tác phẩm những đứa con trong gia đình

Phân tích nhân vật chiến và việt trong tác phẩm những đứa con trong gia đình | Văn mẫu

Đề bài: Phân tích nhân vật chiến và việt trong tác phẩm những đứa con …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *