Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 12 / Phân tích truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân | Văn mẫu

Phân tích truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 12) Em hãy phân tích truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân

 (Bài phân tích văn của bạn Lê Minh Anh Thư)

Đề bài: Phân tích truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân

BÀI LÀM

       “Vợ nhặt” là một truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Kim Lân viết về những người nông dân trong nạn đói Ất Dậu 1945. Nói về tác phẩm này, Kim Lân khẳng định: “Vợ nhặt được một số an hem nghệ sĩ nhận xét là hơn truyện Làng, hơn ở cái chất nhân ái, tình thương của con người đối với con người trong hoàn cảnh khốn cùng. Điều đáng nói nhất là tỏng cái đói con người vẫn nghĩ đến điều sung sướng…Những người đói họ không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống”. Quả vậy, câu chuyện đơn giản về một “cuộc hôn nhân kì lạ” càng đọc ta càng thấm thía những dư vị đặc biệt mà Kim Lân đã thổi vào trong truyện tạo nên những đặc trưng không thể lẫn lộn. “Vợ nhặt” thành công xuất sắc từ việc xây dựng nhan đề đọc đáo đến nghệ thuật xây dựng tình huống, từ giá tri hiện thực đến giá trị nhân đạo sâu sắc.

      “Vợ nhặt’ là truyện ngắn sáng tác năm 1954 dựa trên cốt truyện của tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” được Kim Lân viết sau Cách mạng tháng Tám nhưng bị thất lạc. Truyện ngắn phản ánh bức tranh hiện thực bi thảm của người lao động nghèo trong nạn đói năm 1945. Tác phẩm cũng là bài ca về sức sống bất diệt và vẻ đẹp đáng quý của người lao động ngay trong hoàn cảnh cùng quẫn nhất – đó là lòng nhân ái, lạc quan yêu đời, không ngừng tìm kiếm hạnh phúc.

        Đặc sắc đầu tiên của truyện ngắn là nhan đề ngắn gọn nhưng ấn tượng và hàm chứa những ý nghĩa sâu sắc – Vợ nhặt.. “Nhặt” là một động từ có nghĩa là nhặt nhạnh vu vơ thường là những vật không có giá trị. Vợ là danh từ chỉ người phụ nữ trong mối quan hệ hôn nhân với một người đàn ông. Mối quan hệ này được pháp luật thừa nhận vô cùng thiêng liêng và đáng trân trọng.  .Theo quan niệm dân gian, cưới hỏi là một trong ba việc lớn cần làm (tậu trâu -gầy dựng sự nghiệp, cưới vợ, làm nhà . Vì thế, cưới xin là việc đại sự, phải đầy đủ lễ nghi, có mai mối, sính lễ.  Ấy vậy mà trong tác phẩm, anh Tràng lại nhặt được vợ chứ không phải cưới hỏi theo phong tục truyền thống thông thường. Nhan đề “vợ nhăt” đã thành công khi gây cho người đọc sự chú ý đặc biệt. “Vợ nhặt” là người vợ được nhặt về như một cái rơm cái rác, một thứ đồ bỏ đi. Chỉ một cụm từ ngắn gọn mà nói lên biết bao nhiêu sự rẻ rúng, bèo bọt của thân phận con người. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai có thể thoát khỏi cái chết, bóng đen của nó bao phủ khắp nơi. Chính vì tình cảnh thê thảm ấy, thân phận người nông dân nghèo trở nên nhỏ bé, tủi nhục hơn bao giờ hết. Cũng thông qua nhan đề giàu sức gợi này, chứng ta đã có thể phần nào hình dung được tình cảnh thê thảm, bế tắc cuả xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.

           Đi vào tác phẩm, tình huống anh Tràng nhặt được vợ được tác giả xây dựng là một tình huống độc đáo, có ý nghĩa lớn trong việc thể hiện những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm.

         Tràng là một nhân vật có ngoại hình xấu với “gương mặt thô kệch”, “hai con mắt nhỏ tí”, “quai hàm bạnh ra”. Đã thế Tràng lại còn dở người , “hắn có tật vừa đi vừa nói nhảm”, đôi khi “ngửa cổ lên trời cười hềnh hệch”. Lời ăn tiếng nói của anh ta thì cộc cằn, thô kệch khi thì “rich bố cu” khi thì “làm đếch gì có vợ”. Hơn nữa, gia cảnh của Tràng cũng rất ái ngại. Là dân ngụ cư, bố mất sớm, mẹ già, phải đi kéo xe bò thuê để kiếm sống. Ở Tràng hội tụ đầy đủ các yếu tố để “ế vợ”. Thêm vào đó, nạn đói hoành hành, cái chết đe dọa tất cả mọi người, nuôi thân chẳng nổi chẳng ai nghĩ rằng Tràng sẽ có vợ. Ấy vậy mà, một buổi chiều chạng vạng Tràng lại dẫn về một người đàn bà. Tràng lấy vợ lúc này là nhặt thêm một miệng ăn, gánh thêm một tai họa và đến càng gần hơn với cái chết. Vì vậy, việc Tràng lấy vợ là một nghịch cảnh éo le, bi hài lẫn lộn khiến ai nấy đều ngạc nhiên. Những người dân xóm ngụ cư tò mò, bàn tán “Ai đấy nhỉ”. Họ vui mừng cho Tràng nhưng họ càng lo “biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không”. Mẹ Tràng là bà cụ Tứ lại càng ngạc nhiên hơn khi thấy người đàn bà đứng ở đầu giường con trai mình lại chào mình bằng u. Bà lão chẳng hiểu gì cả cho đến khi Tràng nhắc “Nhà tôi đấy u ạ. Nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ”. Bà cũng như mọi người, lo lắng “biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không”. Ngay cả đến Tràng cũng ngạc nhiên về việc mình lấy vợ. “Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ”.

phân tích truyện ngắn vợ nhặt

         Như vậy, có thể thấy Kim Lân đã rất thành công khi xay dựng tình huống nghịch lí đầy éo le. Nếu không phải năm đói nào có ai chịu lấy Tràng. Mà Tràng lấy vợ có cưới hỏi gì. Tràng nhặt được vợ cò người vợ thì theo không về.Nghịch cảnh éo le chính là ở chỗ đó.

        Nhân tố quyết định sức sống của một tác phẩm nghệ thuật đó là giá trị mà quan trọng nhất là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Giữa rất nhiều tác phẩm cùng lấy đề tài cái đói nhưng “Vợ nhặt” đến nay là một trong số rất ít tác phẩm thành công nhất bởi những giá trị lớn mà nó mang lại.

        Thứ nhất là giá trị hiện thực. “Vợ nhặt” phản ánh hiện thực đầy đen tối, kinh hoàng về nạn đói của nước ta năm 1945. Tác phẩm lên án mạnh mẽ tội ác của bọn thực dân phát xit qua bức tranh xám xịt về tahmr cảnh chết đói. Năm 1945, dưới sự thống trị, bóc lột nặng nề của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhân dân ta chịu cảnh một cổ hai tròng, cuộc sống vô cùng khó khăn. Đã vậy, phát xít Nhật lại bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay dẫn đến nạn đói khủng khếp đã xảy ra khiến hơn hai triệu người chết đói. Câu chuyện diễn ra trong một bối cảnh đạm, thê lương bao trùm cuộc sống của con người.Thời gian diễn ra là buổi chiều muộn khi trời càng lúc càng tối om, tối sầm. Không gian truyện thì đặc biệt u ám khi cái đói hoành hành, lan tràn gây ra biết bao cảnh thê lương. Người chết đói đầy đường “Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Những người sống thì dật dờ như những bóng ma “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ.” Khuôn mặt ai nấy đều hốc hác, u tối bủng beo đến đáng sợ. Dường như, ranh giới giữa sự sống và cái chết đã bị xóa nhòa, người sống vật vờ bên bờ vực cái chết biến tất cả như cõi âm u chốn tử địa.

       Cái đói, cái chết làm cho cuộc sống con người trở nên bi đát, thảm thương. Nó có thể biến một người phụ nữ đang tuổi thanh xuân thành một người đàn bà già nua, xấu xỉ, cái chết hiện hình trên cả khuôn mặt “áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.” Không chỉ vậy cũng vì đói mà người đàn bà khốn khổ ấy trơ trẽn, không biết xấu hổ  bám lấy một người đàn ông xa lạ đòi ăn rồi lại “theo không” về làm vợ chỉ dựa vào một câu nói đùa. Cái đói không chỉ làm con người biến đổi nhân hình mà còn bóp méo nhân cách người đến đáng thương . Và cũng chính cái đói cướp đi mọi quyền sống, hạnh phúc chính đáng của con người. Dựng vợ gả chồng là chuyện chung thân đại sự lẽ ra phải được tổ chức linh đình, đầy đủ lễ nghi thì nay lại trở nên qua loa đến mức mỉa mai. Một người đàn ông nghèo, xấu xí, thô lỗ lại dễ dàng “nhặt” được một cô vợ chỉ bằng một câu nói đùa và bốn bát bánh đúc không cần mai mối, cưới hỏi. Đám “rước dâu” thì chỏ có độc “hai người lặng lẽ rẽ xuống một con đường nhỏ. Con đường sâu thăm thẳm” trong bóng chiều chạng vạng, trong tiếng quạ kêu thảm thiết và trong không khí đầy mùi chết chóc.  Bữa cơm đón nàng dâu mới cũng lại thảm hại không kém: một bát cháo loãng lõng bõng nước với nồi cháo cám đắng chát và nghẹn bứ nơi cổ họng…

       Như vậy, chúng ta có thể thấy cuộc sống của ngươi dân lao động nghèo khổ đã bị đẩy đến bước đường cùng: thân phận người rẻ rúng, bèo bọt. Thông qua đây , Kim Lân đã không chỉ nói lên thân phận nghèo đói của người nông dân mà còn thể hiện được thực trạng đen tối của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.  Ở phần cuối truyện, những con người nghèo khó này cũng khao khát sự đổi thay cho số phận. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng và đoàn người đi phá kho thóc Nhật kéo nhau đi trên đê sộp cũng thoáng cho chúng ta thấy niềm dự cảm của tác giả về tương lai, về cách mạng. Có lẽ, một cuộc đổi đời sẽ đến, có lẽ số phận sẽ mỉm cười với những thân phận nghèo khó ấy.

        Bên cạnh giá trị hiện thực,  truyện ngắn “Vợ nhặt”  còn mang giá trị nhân đạo sâu sắc. Trước tiên chúng ta thấy, dù toàn bộ truyện không hề nhắc đến những tội ác của bọn thực dân phát xít nhưng tội ác của chứng vẫn hiện lên rõ ràng khó có thể chối bỏ. Cái đói vì đâu mà có. Đó là vì những hành động vơ vét, bóc lột tàn bạo của kẻ thù, là vì những chính sách tàn độc, thâm hiểm của bọn thực dân phát xít. Chúng vơ vet của cải nhưng lại bắt nhân dân phá lứ trồng đay, không có lương thực lấy gì đảm bảo cuộc sống? Kim Lân đã gián tiếp lên tiếng tố cáo tội ác, vạch trần bộ mặt man rợ của bọn thực dân phát xít. Ông khẳng định, chúng chính là kẻ thù đã gây ra thảm cảnh bi đát cho nhân dân ta thời bấy giờ. Đồng thời, thông qua việc viết về cuộc sống đầy đau khổ, thê thảm của những người dân lao động nghèo, Kim Lân đã thể hiện một niềm đồng cảm và xót thương, day dứt. Nếu không có một trái tim yêu thương, không có sự thấu hiểu sâu sắc những nỗi đau khổ bất hạnh của người nông dân, có lẽ Kim Lân không thể viết nên những trang sách chân thực đầy máu và nước mắt như vậy.

phân tích truyện ngắn vợ nhặt

      Song song với niềm cảm thương sâu sắc trước số phận con người, Kim Lân đã phát hiện và miêu tả vô cùng chân thực những phẩm chất tốt đẹp của người lao động nghèo khổ. Nhân vật vợ nhặt, thị vì miếng ăn mà trơ trẽn bám lấy một người đàn ông xa lạ thậm chí theo không về làm vợ. Nhưng chứng ta lại thấy thị đáng thương nhiều hơn đáng trách. Thị không sai, ai cũng có quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc, ở thị chính niềm khát khao sống mãnh liệt đã thúc đẩy thị vùng vẫy thoát ra khỏi hiểm cảnh, cứu sống bản thân. Hơn thế, khi cái đói tạm qua đi, thị cũng có cái duyên dáng, ngượng ngùng của người con gái lần đầu về nhà chồng, thị cũng đảm đương, vun vén cuộc sống gia đình với trách nhiệm của người vợ, người con dâu. Bà cụ Tứ và Tràng, dù nghèo đói, nuôi thân không nổi vẫn sẵn sàng cưu mang thêm một người dù như vậy là họ đến càng gần hơn cái chết. Bà cụ Tứ bỏ qua những định kiến xã hội chào đón nàng dâu theo không con trai bà bằng cả tấm lòng vị tha, cao thượng. Bà mừng cho hạnh phúc của các con nhưng là một người mẹ bà cũng lo “không biết chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không”. Không chỉ vậy, tuy là người gần đất xa trời nhất, bà lại là người có ý chí sống và niềm tin mãnh liệt vào tương lai khi gieo vào lòng các con những hi vọng về tương lai tốt đẹp với đàn gà, mảnh ruộng, sự giàu có tương lai. Con người có thể thất bại nhưng không gục ngã trước thất bại, đó mới là đáng quý. Những người nông dân có thể đói, có thể sẽ phải chết vì đói nhưng họ không thôi hi vọng vào tương lai, khát khao hạnh phúc và mái ấm gia đình. Kim Lân đã viết về họ với cả một sự trân trọng, đề cao và ngưỡng mộ từ tận đáy lòng. Vẻ đẹp nhân cách của người lao động nghèo đã được nhà văn tôn vinh và tỏa sáng rực rỡ giữ tối tăm và chết chóc, cứu vớt, dìu đỡ con người vướt lênthực tại, hướng tới ngày mai tươi sáng.

       Không chỉ có vây, giá trị nhân đạo của “Vợ nhặt” còn thể hiện ở cái cách mà Kim Lân kết thúc câu chuyệ. Nam Cao khi kết thúc truyên đều đẩy nhân vật của mình đến bước đường cùng không lối thoát. Ấy là lão Hạc vì đói nghèo mà phải ăn bả chó tự tử để bào toàn số tiền cưới vợ cho con, ấy là bà cụ chết vì no sau khi đến thăm đứa cháu gái đi ở…Kim Lân không giống như vậy, ông mở ra cho nhân vật của mình một lối thoát nơi tận cùng tuyệt vọng. Hình ảnh cuối truyên với lá cờ đỏ sao vàng và đoàn người đi phá kho thóc Nhật là cách Kim Lân định hướng cho những con người nghèo khổ, đó là đấu tranh cách mạng, tự mình vùng dậy đòi lại quyền lượi chính đáng của mình. Chúng ta tin tưởng rằng, rồi đây Tràng, người vợ nhặt hay bà cụ Tứ và những người nông dân nghèo khổ sẽ thoát khỏi cuộc sống đói khát, tìm thấy cuộc sống và hạnh phúc của mình.

       Làm nên thành công của truyện, góp phần truyền tải những giá trị sâu sắc cũng như tư tưởng tình cảm nhà văn đến người đọc không thể không kể đến sự thành công của nghệ thuật kể chuyện. Ở đây, Kim Lân tước hết đã thành công khi xây dựng tình huống truyện độc đáo: Tràng nghèo, xấu lại là dân ngụ cư giữa lúc đói khát, khi cái chết đang cận kề lại nhặt được vợ, có vợ theo không. Tình huống éo le này là đầu mối cho sự phát triển của truyện, tác đọng đến tâm trạng hành động của các nhân vật và thể hiện chủ đề của truyện. Ngoài ra, cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn, dựng cảnh sinh động, nhiều chi tiết đặc sắc cũng có vai trò không nhỏ giúp “Vợ nhặt” tạo được ấn tượng với độc giả. Chắc chắn bất cứ ai đã từng đọc “Vợ nhặt” đều sẽ bị ám ảnh bởi khung cảnh đói khát chết chóc đến rợn người tron tác phẩm. Những đoàn người đói vật vờ, những cái xác còng queo bên đường, không khí vẩn mùi tử khí hay tiếng quạ réo từng hồi…có lẽ sẽ in đạm trong trái tim người đọc những năm tháng bi thảm đau thương của dân tộc đồng bào. Đồng thời, cách xây dựng nhân vật của Kim Lân cũng được xem là vô cùng sinh động, hấp dẫn. Độc giả sẽ không quên một anh cu Tràng xấu xí, thô lỗ nhưng thiện lương, một bà cụ Tứ với tấm lòng đầy bao dung, vị tha và yêu thương con tha thiết hay người vợ nhặt với khát khao sống mãnh liệt lại cũng vô cùng duyên dáng, đảm đang. Tất cả đã cho thấy tài hoa vượt trội, xuất chúng,đáng khâm phục của nhà văn Kim Lân trong sáng tạo nghệ thuật khiến cho tác phẩm vĩnh viễn để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả mọi thời đại.

        Gần một thế kỉ đã qua đi nhưng có lẽ “Vợ nhặt” với những thành công xuất sắc của nó sẽ mãi bất tử cùng thời gian và trong trái tim người đọc. Chúng ta đọc tác phẩm để thấm thía những năm tháng gian lao, bi thương của đồng bào, của cha ông, đọc để biết trân trọng cuộc sống mình đang có, để biết đâu đó còn đó những mảnh đời bất hạnh cần bàn tay sẻ chia của xã hội. Cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn rất nhiều nếu chúng ta sống bằng trái tim luôn thổn thức yêu thương. Có một nhà văn Nga đã từng nói thế này “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi không có tình thương”

>>> Xem thêm:

Check Also

phân tích nhân vật chiến và việt trong tác phẩm những đứa con trong gia đình

Phân tích nhân vật chiến và việt trong tác phẩm những đứa con trong gia đình | Văn mẫu

Đề bài: Phân tích nhân vật chiến và việt trong tác phẩm những đứa con …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *