Home / SOẠN VĂN / Soạn bài Vợ nhặt của Kim Lân | Làm văn mẫu

Soạn bài Vợ nhặt của Kim Lân | Làm văn mẫu

(Soạn văn lớp 12) Soạn bài “Vợ nhặt” của Kim Lân (Bài soạn của bạn Lê Tú Anh)

Đề bài: Soạn bài "Vợ nhặt" của Kim Lân

BÀI LÀM

Câu 1. Dựa vào mạch truyện, có thể chia tác phẩm thành mấy đoạn? Ý chính của mỗi đoạn? Mạch truyện đã được dẫn dắt như thế nào?

Trả lời

_ Dựa vào mạch truyện có thể chia bố cục tác phẩm thành 4 phần:

+  Phần :  Từ đầu -> “ tự đắc với mình” : Nhân vật Tràng đưa người vợ nhặt về nhà.

+  Phần 2: Tiếp -> “đẩy xe bò về”: ể lại câu chuyện hai người gặp gỡ, nên duyên

+ Phần 3: Tiếp -> “nước mắt chảy ròng ròng”: Diễn biến tâm trạng của bà cụ tứ trước cuộc hôn nhân đầy éo le, bi hài của Tràng

+ Phần: Còn lại: Niềm tin vào tương lai tươi sáng.

_. Mạch truyện được dẫn dắt một cách tự nhiên, hợp logic nhin chung là tuân theo trật tự thời gian tuyến tính, đi từ bóng tối ra ánh sáng. Tuy nhiên, ở hai phần đầu có sự đảo lộn thời gian phi tuyến tính  khi kể về truyện Tràng đưa người vợ nhặt về trước sau đó mới đề nhân vật nhớ lại câu chuyện gặp gỡ giữa hai người. Ở đây, sự đảo lộn trật tự thời gian có ý nghĩa quan trọng giúp tác giả nhấn mạnh tình huống bi hài xuyên xuốt toàn bộ câu chuyện đó là anh Tràng xấu xí, dở hơi lại nghèo khó lại nhặt được vợ giữa thời buổi đói kém, người chết đầy đường. Sự kiện bi hài này sau đó đã dẫn đến những lời bàn tán, ngạc nhiên của tất cả mọi người. Bà cụ Tứ, mẹ Tràng , trước tình huống này cũng không tránh khỏi ngạc nhiên, xót thương cho những đứa con. Nhưng rồi, để các con phấn chấn, bà gieo vào lòng các con những hi vọng sáng bừng của tương lai. Kết thúc chuyện, tác giả chi ra lối thoát, mở ra một con đường để các nhân vật hướng tới tương lai đó là đấu tranh cách mạng với hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng và đoàn người đói phá kho thóc Nhật

Câu 2. Vì sao người dân xóm ngụ cư lại ngạc nhiên khi thấy Tràng đi cùng một người đàn bà lạ về nhà? Sự ngạc nhiên của các nhân vật trong truyện cho thấy nhà văn đã sáng tạo được tình huống truyện như thế nào? Tình huống đó có những tác dụng gì đối với nội dung, ý nghĩa của thiên truyện?

Trả lời:

a.Người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên khi Tràng đi cùng một người đàn bà lạ về nhà bởi vì:

_ Tràng là một người xấu xí “hai con mất nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạch ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhính những ý nghĩ gì vừa lí thú vừa dữ tợn”, lại dở hơi “có tật vừa đi vừa nói. Hắn lảm nhảm than thở những điều hắn nghĩ”, thỉnh thoảng lại “ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch”. Hơn nữa, anh ta lại còn là một người cộc cằn, thô lỗ, khi thì “Rích bố cu hở”, khi thì “làm đếch gì có vợ”…Không những thế, Tràng lại là một người nghèo, là dân ngụ cư, không ruộng nương đất đai, kéo xe bò thuê kiếm ăn qua ngày. Ở Tràng hội tụ đủ các yếu tố để “ế vợ”

_ Giữa thời buổi đói kém, người chết đói đầy đường, nuôi thân chẳng nổi chẳng ai nghĩ đến truyện lấy vợ. Tràng “nhặt” vợ là nhặt thêm miệng ăn, nhặt thêm tai vạ cho mình. Dân xóm ngụ cư ngạc nhiên, bàn tán “biết có nuôi nổi nhau qua cái thì này không”

_ Bà cụ Tứ, mẹ Tràng lại càng ngạc nhiên hơn. Lúc đầu bà chẳng hiểu gì, sau khi nghe Tràng nói bà chỉ biết “cúi đầu im lặng”. Bà cũng lo lắng “Biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không”

_ Ngay chính bản thân Tràng cũng ngạc nhiên với chính hạnh phúc của mình. “Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà mà giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ”.

  1. Sự ngạc nhiên của những nhân vật trong truyện cho thấy nhà văn đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo đầy nghịch lí bất ngờ nhưng cũng vô cùng có lí.

_ Bất ngờ, nghịch lí: Thứ nhất là người “ế vợ” như Tràng lại lấy được vợ chỉ bằng một câu nói đùa và bốn bát bánh đúc giữa năm đói khủng khiếp. Theo quan niệm truyền thống dựng vợ gả chồng là chuyện trọng đại cả đời, phải có mai mối sính lễ đầy đủ, trang trọng nhưng Tràng cưới vợ như nhặt một thứ đồ bỏ đi.Thứ hai là trong khi cái đói cái chết bao trùm cuộc sống, thân mình còn nuôi không nổi chẳng ai nghĩ đến chuyện lấy vợ bởi lấy vợ là nhặt thêm một miệng ăn, nhặt thêm một tai họa.

_ Hợp lí: Vì chỉ có năm đói khát như vậy mới có người thèm lấy Tràng, Tràng mới có vợ. Hơn nữa, bất kể giàu nghèo, đẹp xấu, ai ai cũng khao khát hạnh phúc, tình yêu, Tràng cũng vậy. Tràng lấy vợ một phần cũng xuất phát từ mong ước một mái ấm gia đình như bao người.

  1. Tình huống với ý nghĩa tác phẩm: mang giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc

_Giá trị hiện thực: Phản ánh tinh cảnh thê thảm của con người trong nạn đói

+ Cái đói dồn đuổi con ngừơi, bóp méo nhân hình, nhân cách con người: Cái đói làm cho người chết đầy đường “sáng nào người trong làng đi chợ cũng gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường”, “người chết như ngả rạ”. Người sống u ám, vật vờ như bóng ma. Vì đói mà người vợ nhặt chủ động gợi ý đòi ăn “ăn gì thì ăn chả ăn giầu”, vì đói mà thị ăn luôn và “ăn liền một chập bốn bát bánh đúc”. Cuối cùng, vì đói, thị phải bám víu lấy một người đàn ông xa lạ, chỉ dựa vào một câu nói đùa. Cái đói dồn thị đến bước đường cùng khiến thị trở nên trơ trẽn, liều lĩnh, bất chấp tất cả.

+ Cái đói khiến cho hạnh phúc thật mong manh tội nghiệp: Cưới hỏi là chuyện trọng đại cả đời, theo truyền thống phải có mai mối, cưới treo. nhưng vì đói mà người đàn bà theo không Tràng chỉ bằng 4 bát bánh đúc và 1 câu nói đùa. Con đường đón dâu cô độc hai người, trong chiều chạng vạng, giữa tiếng quạ thê thiết. Bữa cơm ngày đói là bát cháo loãng xoẹt với nồi cháo cám đắng chát và nghẹn bứ cổ họng. Thành vợ thành chồng nhưng mái ấm mong manh vì “Không biết có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không”

+ Tố cáo mạnh mẽ bọn phát xít thực dân với ách thống trị tàn bạo vô nhân tính đẩy con người vào đường cùng. Với những chính sách vơ vét, cướp bóc, đặc biệt là chính sách của phát xít Nhật bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay đã khiến nạn đói trở thành thảm cảnh của dân tộc.

_ Giá trị nhân đạo:

+ Vẻ đẹp tình người thể hiện qua cách các nhân vật đối xử với nhau:

  • Tràng tuy nghèo đói, chật vật lo miếng ăn nhưng vẫn giang tay cứu vớt người đàn bà đã theo không anh ta về nhà.
  • Người vợ nhặt tưởng như là người phụ nữ vô liêm sỉ, đanh đá nhưng có khao khát sống và bản chất hiền hậu, đảm đang. Thị theo không ràng về nhà là muốn tìm chỗ bấu víu qua cơn đói khát nhưng về đến nhà Tràng, thấy gia cảnh nghèo túng thị cũng không quay lưng bỏ đi. Bữa cơm đầu tiên chỉ có bát cháo loãng vs nồi cháo cám đắng chát, nghẹ bứ cổ họng thị vẫn “điềm nhiên và vào miệng” vì không muốn bà cụ Tứ mất vui, buồn lòng…
  • Bà cụ Tứ thương người, đồng cảm với người vợ nhặt, bà biết “người ta có gặp lúc khó khăn đói khổ người ta mới lấy đến con mình mà con mình mới có vợ”. Bà cũng như Tràng không mỉa mai, xua đuổi mà sẵn sàng chào đón nàng dâu mới với tất cả lòng vị tha.Bà cụ cũng là người mẹ nghèo hết mực thương con. Bà lo “không biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không”, bà nói về tương lai tốt đẹp, gieo vào lòng các con niềm tin, hy vọng sống.

+ Con người luôn khát khao hạnh phúc, lạc quan, hướng đến ngày mai tươi sáng:

  • Tràng lấy vợ vì mong ước hạnh phúc gia đình, hạnh phúc lứa đôi.
  • Người vợ nhặt theo không Tràng vì khao khát sống mãnh liệt, thị sẵn sàng vứt bỏ tự tôn vì miếng ăn.
  • Bà cụ Tứ luôn nói về ngày mai, về tương lai hạnh phúc, tốt đẹp.

Câu 3. Dựa vào nội dung truyện, hãy giải thích nhan đề Vợ nhặt. Qua tình huống trong truyện, hiểu gì về tình cảm và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói 1945?

Trả lời:

a.Nhan đề Vợ nhặt

_ Vợ: Là người phụ nữ tạo dựng mái ấm, nhắc đến vợ người ta nhắc đến mối quan hệ đầy thiêng liêng, trân trọng.

_ Nhặt: là hành động nhặt nhạnh vu vơ những thứ nhỏ bé, không ra gì, bị bỏ đi.

  • Vợ nhặt: người vợ được nhặt về dễ như nhặt món đồ bỏ, như cái rơm cái rác. Chỉ bằng bốn bát bánh đúc, vài câu bông đùa mà trở thành vợ người không cưới treo, mai mối.Cho thấy sự rẻ rúng, bèo bọt của thân phận con người.

_ Tình cảm và thân phận người nông dân nghèo trong nạn đói 1945 thông qua tình huống truyện: Thân phận con người trở nên rẻ rúng, bèo bọt hơn bao giờ hết. Người nông dân bị buộc rơi vào hoàn cảnh khốn cùng khiến họ phải đánh đổi cả nhân cách để duy trì cuộc sống. Thế nhưng, trong đau khổ, con người vẫn luôn yêu thương, đùm bọc nhau, cùng nhau vượt qua khó khăn, đau khổ.

soạn bài vợ nhặt của kim lân

Câu 4. Cảm nhận về niềm khát khao tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng, Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc như thế nào khi thể hiện niềm khát khao đó của nhân vật (lúc quyết định đế người đàn bà theo về, trên đường về xóm ngụ cư, buổi sáng đầu tiên có vợ,…).

Trả lời

      Nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã cướp đi sinh mạng, đe dọa sự sống của hàng triệu con người. Thế nhưng, có lẽ thứ mà vĩnh viễn nó không thể cướp mất ở những người nông dân nghèo khổ là phẩm chất tốt đẹp, khát vọng sống mãnh liệt và khát khao hạnh phúc bình dị. Nhân vật Tràng, dù nghèo khó, dù cận kề cái chết vẫn luôn khát khao mái ấm gia đình

_ Đầu tiên là cái tặc lưỡi “Chậc!kệ” có vẻ bất cần nhưng vô cùng đáng quý khi Tràng quyết định để người đàn bà theo về. Tràng tự đánh cược cuộc đời mình với cái đói, cái chết để có được một cuộc sống bình thường như bao người khác. Đó là có vợ có chồng, có một mái ấm gia đình mà anh ta chưa bao giờ dám mơ tưởng vì Tràng xấu xí, thô kệch và nghèo khó. Nhặt được vợ rồi Tràng lại dẫn thị ra chợ sắm sửa một cái thúng con con, vài thứ lặt vặt và hai hào dầu. Hành động này như một cách để anh ta vun vén, chuẩn bị cho tổ ấm riêng của mình đủ để thấy Tràng trân trọng hạnh phúc này nhường nào. Giữa cơn đói khát, cho nhau miếng ăn là cho nhau sự sống, gắn thêm miệng ăn vào mình là cộng thêm nguy cơ chết đói. Đằng sau hành động đầy lương tri ấy là tình thương con người nhưng có lẽ đó cũng là xuất phát từ khát khao hạnh phúc gia đình luôn âm ỉ trong lòng Tràng.

_ Trên đường về xóm ngụ cư, khi đã chính thức có vợ, không còn những bước chân mệt mỏi, “Mặt hắn có một vẻ gì phởn phơ khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Niềm vui hạnh phúc giản dị Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. “Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng”. Cảm giác ấy chính là hạnh phúc, cái hạnh phúc nhỏ nhoi thôi nhưng có thể biến một người đàn ông thô kệch thành một đứa trẻ lớn hền lành.Dưới ngòi bút Kim Lân, hạnh phúc của Tràng được thể hiện khá tinh tế và tỉ mỉ. Nó giống như thứ phép tiên màu nhiệm mang lại da thịt mới, cuộc sống mới cho Tràng.

_ Trong buổi sáng đầu tiên có vợ: Trước niềm hạnh phúc bất ngờ khiến Tràng có cảm giác “êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Việc có vợ đến hôm nay anh ta “vẫn còn ngỡ ngàng như không phải”. Vì niềm hạnh phúc vô bờ bến, tâm lí Tràng được tác động một cách sâu sắc. “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”. Nghĩ về tương lai với mái ấm giản dị, “một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng.”. Cũng từ đây, Tràng ý thức hơn bao giờ hết trách nhiệm của mình với vợ con gia đình. Hạnh phúc biến Tràng từ người đàn ông thô lỗ, dở hơi thành người có trách nhiệm, suy nghĩ sâu sắc hơn.

=> Với tư cách là một nhà văn “một lòng đi về với đất, với người”, Kim Lân,có thể nói, đã vô cùng thành công khi miêu tả diễn biên tâm lí nhân vật Tràng. Để khắc họa tinh tế, tỉ mỉ tâm lí nhân vật trước sự tác động của niềm hạnh phúc nhỏ bé, hẳn là cả một sự thấu hiểu, đồng cảm của nhà văn với người nông dân nghèo. Hạnh phúc họ khao khát vốn chẳng cao sang nhưng khi được thỏa mãn, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, có sức mạnh vực dậy, hồi sinh cả một con người.

Câu 5. Phân tích tâm trạng buồn vui lẫn lộn của bà cụ Tứ, qua đó anh chị hiểu gì về tấm lòng của bà mẹ nông dân này?

Trả lời:

Trước “đám cưới” đầy nghịch lí và chua chát của con trai, nhân vật bà cụ Tứ mang tâm trạng buồn vui lẫn lộn.

_ Trước tiên, bà lão cũng như bao người khác, hết sức ngạc nhiên trước việc Tràng dẫn về một người đàn bà xa lạ: “người đàn bà nào đứng ngay đầu giường thằng con trai mình thế kia”

_ Khi đã hiểu ra mọi chuyện , “bà lão cúi đầu nín lặng”, tâm trạng đầy “ai oán, xót thương” bởi là một người mẹ nhưng bà lại không thể làm tròn trách nhiệm với con, không cho con được cuộc sống đủ đầy, đến việc dựng vợ gả chồng cho con cũng không làm được để con phải lấy vợ theo cái cách đầy mỉa mai, chua chát “Người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc gia đình ăn nên làm nổi nhữn mong sinh con đẻ cái nở mày nở mặt sau này…Còn mình thì…”. Bà cũng buồn vì lo lắng cho tương lai của các con khi nạn đói rình rập không trừ ai “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”

_ Bà cụ mừng vì con mình đã có vợ, yên bề gia thất, bởi “người ta gặp lúc khó khăn mới lấy đến con mình”. Hiểu hoàn cảnh của gia đình, bà cụ dang tay chào đónnàng dâu mới bằng tấm lòng vị tha, bao dung “Thôi, các con phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng”. Cũng chính việc con trai cưới vợ đã khiến “khuôn mặt bủng beo u ám thường ngày” của bà lão “rạng rỡ hẳn lên”. Chỉ vậy thôi cũng đủ biết bà cụ vui mừng, hạnh phúc cỡ nào.

_ Bà cụ Tứ là một người mẹ nghèo giàu tình yêu thương con, tấm lòng đầy bao dung, vị tha. Bà thương con trai phải lấy vợ theo cái cách đầy mỉa mai chua chát còn bà là mẹ lại chẳng làm gì cho con được. Bà thương người con dâu “gặp bước khó khăn đói khổ mới lấy đến con mình” cũng thương và lo lắng cho tương lai mờ mịt của vợ chồng Tràng. Bữa cơm đầu tiên đón nang dâu mới đạm bạc nhưng bà cũng đã phải cố gắng rất nhiều bởi dù chỉ là bát cháo lõng bõng nước, nồi cháo cám chát xít thì “trong xóm ta khối nhà còn chẳng có cám mà ăn”. Bà vui vẻ nói nhiều về hi vọng, về tương lai tươi đẹp ngày sau veis những tính toán hết sức đời thường từ chuyện nuôi gà đến “ông trời cho khá”. Bà muốn gieo vào lòng các con hạt giống hi vọng để mong các con lạc quan bước tiếp con đường khốn cùng.

Câu 6. Anh chị hãy nhận xét về nghệ thuật viết truyện của Kim Lân (cách kể chuyện, cách dựng cảnh, đối thoại, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ…).

Trả lời:

 Qua “Vợ nhặt”, Kim Lân đã chứng tỏ ngòi bút tài hoa lỗi lạc của mình, đó là cả một sự tìm tòi, nghiền ngẫm không mệt mỏi về nhiều phương diện ghệ thuật

_ Cách kể chuyện tự nhiên, lôi cuốn, hấp dẫn. Nhà văn bắt đầu bằng sự kiện nhân vật Tràng dẫn về một người đàn bà. Cũng giống như những người chứng kiến sự việc, độc giả không khỏi thắc mắc đó là ai, tại sao lại có sự việc này. Sau đó, mọi sự được hé lộ qua dòng hồi tưởng của Tràng, người đọc hiểu được nguyên nhân sự việc và cũng vô cùng bất ngờ, đau xót trước sự việc đầy nghịch lí éo le.

_ Dựng cảnh chân thật, gây ấn tượng mạnh mẽ: khung cảnh đói khát với người chết đói đầy đường, những người sống xanh xám, bủng beo, vật vờ như những bóng ma, tiếng quạ réo từng hồi thê thiết, tiếng hờ khóc trong đêm…, cảnh bữa cơm ngày đói thảm đạm và xót xa với mẹt rau chuối thái rối, bát cháo loãng và nồi cháo cám đắng chát, nghẹn bứ nơi cổ họng…

_ Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, tự nhiên, chân thật: Thể hiện qua diễn biến tâm lí bà cụ Tứ với buồn vui lẫn lộn, với niềm hi vọng tương lai. Qua nhân vật Tràng là sự ngỡ ngàng trước niềm hạnh phúc lâng lâng làm thay đổi cả con người anh ta.

_ Ngôn ngữ nhân vật mộc mạc, bình dị, phù hợp với tính cách và thực tế đời sống: Ngôn ngữ của nhân vật Tràng thô kệch “làm đếch gì có vợ”, “mẹ bố chúng mày”…Người vợ nhặt đanh đá, chao chát “Ăn gì thì ăn chả ăn giầu”, “Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống mà mất mặt”… Bà cụ Tứ xưng u-con, tao-chúng mày…

>>> XEM THÊM : 

Check Also

Tóm tắt văn bản Lão Hạc của Nam Cao

Tóm tắt văn bản Lão Hạc của Nam Cao | Văn mẫu

Đề bài: Tóm tắt văn bản Lão Hạc của Nam Cao Bài làm Tác phẩm …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *